//
you're reading...
Góp nhặt cát đá, Lịch Sử, Nhân vật, Quê Hương

Thư Thất Điều gửi cho Vua Khải Định

Việt Nam quốc dân Phan-châu.Trinh gởi thư cho đương-kim Hoàng-Đế.

Tôi sinh gặp lúc : trong thời nước nhà nghiêng- ngập, ngoài thời các nước đua tranh tiến-bộ. Tôi là người yêu bình-dân chủ nghĩa, ghét chuyên chế quân quyền, đau đớn vì quan lại tham lam, thương xót vì dân sinh khốn khô, vậy nên tôi sẵn lòng liều cả sanh mạng tôi, ra gánh vác việc đời, trông mong có cứu lại cuộc hiềm nghèo được chút nào chăng !

Năm 1907, tôi đã gới thư cho các quan chánh phủ Bảo-hộ, hết sức kêu ca, trước bày tỏ tình cảnh khổ sở của dân Việt Nam, sau xin thay đồi theo chính trị các nước văn minh trong thì bây giờ. Những việc tôi đã đề xướng trong lúc bấy giờ, đều là sự cần kíp thiết thì cả: như lập trường dạy tiếng Tây và chữ Quốc ngữ, bày ra hội thương, hội nông đề giành lại quyền lợi cho người mình, và thay đổi cách ăn mặc theo cách Âu Tây, v.v… Những việc đó tôi làm trước tai mắt người thiên hạ, rõ ràng như ban ngày, vậy thời có tội lỗi gì không? Thế mà Triều đình nước ta, từ trên đến dưới, cứ khư khư cố giữ lấy thói chuyên chế cũ đề hà hiếp dân ngu, cướp lấy lợi riêng cho mình; ghét việc thay đồi như cừu thù, coi nhân dân như rơm rác, tìm cớ bới việc, phá phách đủ đàng, làm cho lòng dân ai ai cũng tức giận, đề mà giết hại những kẻ thông minh lương thiện trong nước. Sự chống sưu thuế không công bình, xày ra khắp cả 12 tỉnh Trung-kỷ trong năm 1908, thời dân và thân sĩ bị giết và bị tù, kê hơn mấy ngàn người, đau lòng thảm dạ biết là bao nhiêu !

Gặp dịp như thế, một người như tôi, có thể nào mà họ chịu bỏ lỏng: phao cho việc này, buộc vào cớ kia, trước thời xử án tử, sau lại đày Côn-lôn.

Khốn nạn thay! nước ta bị nước Pháp bảo hộ đến ngày đó đã gần ba bốn mươi năm rồi, nhưng sự hủ bại vẫn không thay đôi, cách văn-minh chẳng hề bắt chước, mà cái nọc độc chuyên-chế ức hiếp vẫn còn gớm ghiếc như thế. Vậy thời cái văn mịnh của nước bảo hộ không ích gì cho nước bị bảo hộ, mà nước bị bảo hộ cũng không nhờ gì được sự khai hóa của nước bảo hộ, lạ quá ! sự đó trọng đời nầy cũng it thấy vậy.

Nếu tôi không nhờ được cái lòng công bình của mấy người Tây thời tôi còn đâu đến ngày nay. Tôi mà còn sống đến nay, cũng là nhờ cái văn-minh thực của người Tây vậy, (nhờ có Hội Ligue des Droits de l’homme).

Năm 1910, được khỏi tù, năm 1911 tôi được qua Tây đề xem xét cái học thuật văn minh Âu-châu. Đã 22 năm, tôi ăn nằm trên cải đất dân chủ, hớp cái không khí tự do, nhờ vậy mà tôi hiều được lẽ chánh đáng trong thế giới, phần nghĩa vụ của quốc dân, và cũng biết chắc được cái mục đích của nước nhà nên thay đồi lại thế nào. Dân ta bây giờ cần phải đánh thức nhau dậy, phải đồng lòng hiệp sức mà chống cự với lũ vua dữ quan nhơ, phải phá nó cho tan,
đạp nó cho đồ ; lại phải lấp tận nguồn, cắt tận rễ, làm cho tiệt hẳn sức ma quỉ chuyên chế, nó đã ám ảnh chúng ta mấy ngàn năm nay, nếu không làm như thế thời không bao giờ trông thấy ánh sáng mặt trời mặt trăng nữa !

Ấy là cái chủ ý và cái mục đích của tôi vậy.

Vậy mà nay tôi nghe Bệ-hạ từ khi lên ngôi tới giờ, có làm được điều gì ích lợi cho dân không?
Không, chỉ nghe có những điều kiêu căng, dâm dục, trái luân lý, nghịch phép tắc; quyền vua muốn cho tôn sùng. thưởng phạt mất cả công chính; hút cái máu mủ của dân nghèo, trau cái xác thịt cho sung sướng, ngược văn minh của thế giới, ngăn đường tiến bộ của quốc dân ; nết xấu tính hư, chứa chan đầy nhẩy, không sao mà nói cho xiết được.

Theo luật hiến-pháp các nước văn minh trong đời bây giờ, vua nào trái phép, dân có quyền cứ luật mà bắt tội. Tuy ngày nay dân quyền nước Nam còn bị đè nén, hiến pháp còn chưa thành lập, song cứ theo lẽ công bình chung trong đời nay, Bệ-hạ không sao mà gỡ tội với dân chúng tôi được.

Nay tôi trích ra bảy việc quan hệ thứ nhất đến dân đến nước chúng tôi, 7 việc đó là 7 tội của Bệ-hạ, tôi sẽ xét đoán bắt buộc như sau nầy, khi Bệ- hạ được thư nầy, thì Bệ-hạ phải tự xử lấy.

I.– Một là tội tôn quân-quyền

Sau khi Bệ -hạ lên ngôi, thường ra những Chiếu Dụ ép dân phải tôn quân quyền, là lẽ gì vậy? Bệ hạ thường nói, nước ta xưa nay vẫn sùng Nho giáo. Nho giáo còn ai lớn hơn ông Khồng, ông Mạnh ? Xưa vua Định-Công hỏi đức Không-tử rằng : « Có câu nói gì vua nói ra, mà làm cho nước thạnh vượng được không ?. Đức Khỗng-Tử rằng:« Có, làm vua khó lắm, mà làm tôi cũng không dễ.» Lại hỏi rắng:« Vậy thời có câu gì vua nói ra, mà làm mất nước không ?» Đức Không-Tử rằng :« Có, ta không vui chi sự làm vui, ta chỉ vui sao cho những lời ta nói ra, không ai dám cải lại.». Thầy Mạnh-Tử rắng : «Trong nước dân là quý nhất, đất cát và vật sản là thứ nhì, còn vua là khinh.». Lại nói rằng : «Có ở cho được lòng người cùng-dân, mới đáng làm ngôi thiên tử». Còn biết bao nhiêu là lời nói khác nữa, cũng toàn là một ý ấy cả. Bệ hạ xem lại trong 5 Kinh và 4 Truyện, xem có cầu nào là tôn quân quyền không? Bởi vì, người nào ngôi mình mà ở trên một muôn người, thời lòng khiêm nhượng phải xem mình như ở dưới cả muôn người, ấy là cái tinh thần của Nho giáo vậy ; nếu người nào hãnh hãnh tự đắc, cậy quyền thế mà ép dân, rắng: « chúng bây phải tôn ta, phải sợ ta », thời người ấy chẳng khác chi tìm đàng tự tử vậy.

Xưa vua Kiệt rằng:« Ta làm vua trong nước nầy, như mặt trời soi trên trái đất, mặt trời mất ta mới mất. » Dân thời trả lời rằng : « Mặt trời kia sao mày không mất? chúng ta sẵn lòng chết với mầy, mà làm cho mầy mất.»

Vua Trụ rằng : « Mạng ta sinh ở trời, chứ chẵng ở dân ». Dân trả lời rằng : «Trời là dân, trời xem là dân ta xem, trời nghe là dân ta nghe ».

Rút cuộc lại, vua Kiệt thời đày ra nội Nam-sào, vua Trụ thời đầu treo cờ Thái-bạch.

Ấy là những cái gương của các ông vua tôn quân quyền đó. Về sự đó đức Khồng Tử rằng : « Vua Thang đày ông Kiệt, vua Võ giết ông Trụ, là hợp theo lẽ trời, mà thuận theo lòng người», Thầy Mạnh-tử rằng : « Nghe giết một người tàn bạo, tên là Trụ, chứ chẵng phải giết vua».

Đấy mới thực là Nho giáo đấy, sách vở còn sờ sờ đấy, đều ghi lại từ tay đức Khổng, thầy Mạnh cả, có phải tôi bày đặt ra tôi tự dối tôi, mà phỉnh cả người ta đâu.

Những Chỉ Dụ tôn quân quyền của Bệ hạ, có khác gì cái chiến thơ với Nho giáo hay không ? Xưa nay có vua nào nghịch với quốc giáo mà còn được làm vua lâu dài đâu ?

Còn theo các học thuyết mà nói, sao gọi là nước ? là hiệp dân lại mà thành nước; sao gọi là triều đinh ? là những người được ủy quyền cho, phải thuận theo ý muốn của dân mà làm những việc lợi dân ích nước.

Ông vua hay ông Giám-Quốc, chẳng qua là người thay mặt cho một nước, cũng như một người quản lý thay mặt cho một Công-ty mà thôi.

Ai đã chịu cái trách nhiệm ấy, đã hưởng được cái quyền lợi, thời phải làm cho hết cái bồn phận minh đối với dân, đổi với nước; nếu không thế, thời cũng bị phạt, bị tội như mọi người vậy.

Ấy, tự do, bình đẳng, là nghĩa thế, mà các nước văn minh thì nay phải đặt ra quan Nội các, Tổng trưởng (tức là Tề-tướng) đề thay quyền vua hay Giám-Quốc đề chịu lỗi với dân là thế.

Nếu có ông vua, hay ông Giám-Quốc nào chiếm của dân làm của riêng mình, thời dân buộc tội cũng chẳng khác
gì tội ăn trộm ăn cướp ; nếu cậy quyền mạnh hành hà dân làm tôi mọi, thời buộc tội cũng như đứa bạn nghịch.

Cái lẽ ấy đương thì nó sáng hoắc như ban ngày, ai ai cũng rõ. Phàm những dân các nước văn minh, đều coi lẽ ấy như nước, lửa, lúa, gạo, thờ lẽ ấy như trời đất thần linh ; dân nào thuận lẽ ấy thời được thạnh vượng phú cường, dân nào trái lẽ ấy thời phải sút sa hèn hạ.

Xưa vua nước Pháp là Louis XIV nói rằng : «Nước là ta», dân Pháp cho là lời nói đại nghịch vô đạo ; đến nay người Pháp làm sách chép đến câu đó cũng còn chưa nguôi lòng giận. Cái ý đó có khác gì với nghĩa Nho giáo đâu.

Đức Khổng-tử nói rằng: «Ông vua nào muốn cái sự ghét của dân, mà lại ghét sự muốn của dân, thời tai hại
tất đến ngay cho mình». Lại nói rằng : « Mọi rợ nó có vua, chẳng bằng những nước văn minh nó không có là hơn».
Ông Mạnh tử nói : « Nước là nước của dân, chứ không phải của vua».

Nay Bệ hạ sinh đẻ trong nước Nho giáo, và làm vua trong thì bây giờ là thì thế kỷ 20, mà nước ta lại đứng dưới quyền nước dân chủ Pháp Bảo hộ, Bệ hạ lại dám tôn mình như thần thánh, nghênh ngang trên đầu dân. Vậy thời chẳng những dân Việt Nam không thề dung được Bệ hạ, mà dân nước Pháp lại càng khi dễ Bệ hạ nữa.

Nay chúng ta thử ghé mắt xem qua tình thế Âu Á. Nhật Bản là nước đồng chữ, đồng giống với nước ta. 40 năm trước, họ đã lập ra hiến pháp, cho dân được bầu cử nghị viện ; việc chính trị trong nước, theo công ý của dân, chứ vua khòng được tự chuyên cả; vì thế nên nước họ được cường thịnh, nay đã đứng đầu trong Á đông, thế mà dân họ vẫn hiềm quyền vua còn lớn quá. Vua Minh-Trị là vua có danh tiếng công đức của Nhật-Bản, mà cuối năm hiệu Minh-Trị, ông ta còn bị cái hiềm thích khách, lại năm mới rồi đây, quan Tề tướng Nhật-bản bị giết trong ga xe lửa cũng vì cớ ấy.

Nước Tàu là nước mẹ văn minh nước ta, trong năm 1912, họ cũng đã đuồi vua đi để lập nên nước dân-chủ.

Còn như Âu Châu, quyền vua còn ai lớn hơn Hoàng đế nước Nga, thứ nữa thời Hoàng đế nước Đức, và Hoàng đế nước Úc ? Trong trận chiến bại vừa rồi, vua Nga là Nicolas II và cả nhà bị giết một cách rất thảm hại; vua Đức Guillaume. II phải trốn qua Hà- Lan mới khỏi chết; vua Úc Charles 1, hai lần trốn về đề mưu phục ngôi vua, dân nước Úc họ chống cư lại và đuồi đi như đuôi gà ; rút cục lại bị đày chết ngoai một hòn cù lao.

Những ông vua tôi đã kể trên đó, đều là những người anh kiệt, và trí họ cũng biết đủ mọi việc trên thế giới, tuy họ đối với dân có một hai việc tự chuyên, song cũng có lắm việc họ làm ích cho nước họ. Những ông vua nào làm nên, thời nước được giàu mạnh, ông nào có bị thua đi nữa, cũng không đến nổi mất nước. Thế mà các nước ấy nó đối với các vua chúng nó một cách rất nghiêm khắc, ghét họ như là cục thịt dư bướu thừa, gớm họ như con rắn dữ rết độc; việc nhỏ không cẩn thận, thời chúng nó bẻ bắt không thứ; làm việc lớn mà bỏng, thời sự giết chóc theo ngay. Xem đó thời đủ biết cái trí thức những dân đời bây giờ mở mang là thế nào !

Còn nước Nam ta, từ xưa đến nay, vẫn là một nước chuyên-chế, trăm việc chính trị vào một tay vua ; công việc Triều đinh, cấm không cho dân nói đến (luật ta cấm không cho học trò và dân gởi thư cho vua nói chính trị). Đã 70, 80 năm nay, trên vua thời hèn, dưới tôi thời nịnh; pháp luật thời nghiêm nhặt, dân mất cả tự do, (từ đời Gia-Long đem luật Thanh về trị dân Việt- Nam, là một sự lầm, vì luật đó là luật người Mãn châu lập ra đề trị Trung quốc, trong luật ấy lắm phép không công bình; xem như khi luật ấy bắt đầu thi hành trong nước ta, ông Nguyễn-văn-Thành là một người khai quốc công thân, chỉ vì cớ con ông ta đặt một bài thơ chơi, vậy mà các quan nịnh thần, đem thêu dệt ra, giết cả nhà ông ấy ! Thế thời bộ luật ấy độc dữ biết chừng nào !) Từ đó nước ta, dân với vua xa cách nhau xa quá ; các quan ở giữa muốn làm chi thời làm, dân không chỗ kêu ca. Từ triều Minh-Mạng về sau, giặc giả nỗi lên luôn ; đến đời Tự Đức, Tây qua là mất nước, ông bà nhà Nguyễn, trong 200 năm mở mang gần nửa nước Nam, công đức lớn biết là bao nhiêu, mà con cháu làm vua chỉ chưa đầy 50 năm, đã bị họa mất nước, là bởi cớ đó, thảm thay! Việc học hành thời hủ bại, nên học trò dốt nát, chỉ biết thi đậu làm quan để ăn cướp của dân, chẳng biết nước nhà là gì.

Vậy cho nên đến nay nước nhà một ngày một sa sút, càng ngày càng tàn mạt, chằng còn đứng vào bực nào cả; nếu không bị nước Pháp lấy, thời cũng không biết nước ta trôi nổi vào tay ai !

Cứ sự đã qua đó mà buộc tội, chẳng vua thời ai? Dầu có anh thầy kiện miệng lưỡi giỏi đến thế nào, cũng không cãi cọ gì được.

Vậy thời nước, ta từ nay về sau, còn nên tôn quân-quyền nữa khòng ? Không, chẳng những là vua không nên tôn, mà ngôi vua cũng nên cất đi kia. Vậy mà vua đến nay cũng còn, thương ..i! Cái trí khôn dân nước ta lu lấp, thua kém cả người thiên hạ, đã đành nên thượng .hại, mà cái lòng trung hậu nhịn nhục của nó cũng nên chuộng vậy !

Vậy thời đáng lẽ vua phải hết lòng lo lắng làm việc gì lợi ích cho thỏa lòng chúng .ó một tị mới phải. Nay Bệ hạ thời không : lúc chưa làm vua, chẳng nghe có một điều gi là hay, mà sự xấu xa thời đã chán chường trước mắt thiên hạ, chỉ lo chạy ngược, chạy xuôi đề lên làm ‘vua cho được; “đến lúc làm vua được rồi, chỉ làm việc cho nhân dân oán thán mà thôi. Vậy mà nay lại còn dựa hơi quyền nọ quyền kia, bắt buộc dân còn phải tôn mình nữa kia !

Chiếu theo luật xưa nay, dân Âu Á chúng nó bắt tội các vua của chúng, mà xử Bệ-hạ, thời một cái giết, hay một cái đuồi, hai cái đó Bệ-hạ không thể tránh được.

II – Hai là tội thưởng phạt không công-bình.

Thưởng và phạt là cái phép lớn của Triều đình. Mạng sống của dân, kỹ cương của nước, đều quan hệ ở đó cả, Đức Khổng tử nói : «Hình phạt không nhằm phép, thời dân không có chỗ thò tay chân». Mạnh- Tử rằng : Người trên không theo lẽ thẳng, người dưới không giữ phép luật, cái nước như thế, thời thế nào cũng phải mất». Đời xưa thưởng người phải ở Triều, là tỏ ra người cả nước cùng thưởng ; phạt; người phải ở chợ, là tỏ ra người cả nước cùng phạt; nếu hai sự đó mà mất cả công bình, thời dân cần gì phải có vua có quan ?

Tôi nghe đích rắng : Bọn tên X là bạn chơi bời lắng lơ với Bệ-bạ khi trước, khi Bệ-hạ làm vua rồi, thằng thời được thăng chức Thống chế đề hầu hạ bên mình, thẳng thời cho làm Tri-phủ, Tri huyện, quan Tỉnh hay quan Kinh v.v… Lại nghe có anh quan Thị- lang nọ, vợ anh ta có oán riêng với Bệ-hạ lúc còn chưa làm vua, khi Bệ-hạ lên ngôi rồi, nhơn sự rủi ro nho nhỏ, anh ta bị cách chức đuổi về ngay. Lại một người Thượng thơ hay bán rao những cái tịt riêng của Bệ-hạ ra ngoài, nhân dịp nó mất chỗ dựa, Bệ hạ tìm cớ buộc tội nặng, xử 8 năm tù, án đã làm rồi, sau nghe anh này trút ra 5 vạn đồng bạc, lại được lại, giáng chức đuồi về.

Vậy thời sự thưởng phạt, Bệ hạ cứ theo cái ý riêng của minh, chẳng cần gì phép nước, làm cho thêm sự gian dối lo lót ra. Vua như thế, thời vua làm gi?

Lại nghe Bệ hạ nuôi một tụi lính kín hơn 40 người, đề mai chiều đi do thám chốn hương thôn, nơi thành thị, xem có ai gièm chê minh không? Nếu có, thời Bệ-hạ hoặc là tìm cách buộc tội ngay, hoặc là dùng cách bí mật làm hại mà không cho người ta biết. Những quân đó rặt là quân côn đồ, cậy thế gần vua, làm điều phi pháp, khiến cho lương dân ai ai cũng sợ hãi, khóa mỗm bịt miệng, ra đường gặp nhau chỉ lấy mắt tròng nhau mà thôi, thiệt là làm cho nhân dàn khô sở thảm thê.

Xưa vua Lệ nhà Châu là người lắm nết xấu, sợ dân chỉ trích, mới đặt ra một cái phép đề khỏi sự chê gièm, cũng làm như Bệ hạ vậy. Ông Thiệu-Công can rằng : “Bịt miệng dân khó hơn là bịt miệng sông “, vua Lệ không nghe, sau quả bị dân giết. Sao Bệ-hạ không lấy gương đó mà soi ?

III -Ba là chuộng sự quỳ lạy

Cái sự quỳ lạy chẳng qua là để chỉ sự tôn kính đó mà thôi, ngoài ra chẳng có nghĩa lý gi cả! Một người ngồi sờ sờ ở trên, bao nhiêu người dưới phải áo mão dập dầu xuống đất, chẳng những là làm mất cái phẩm giá của loài người: mà lại làm cho người trên sinh lòng kiều căng, người dưới mất lòng liêm sỉ, thật là một cái lễ phép rất mọi rợ. (Lễ lạy đời xưa, một người lạy thời phải lạy trả lại, lễ đó hãy còn bên Nhật bản, nhưng vi phiện quá; nay cũng bỏ.)

Các nước văn minh đời bậy giờ đều bỏ cái lẽ ấy cả, Chỉ còn một hai xứ Mường, Mán còn giữ lại mà thôi, thế mà nước ta đến nay vẫn còn giữ thói đó, thực là một sự xấu hổ cho dân ta biết bao nhiêu.

Năm 1906, quan Toàn quyền Beau ra lệnh bỏ lạy, khốn nạn thay cho các quan lớn Việt Nam không biết xấu hổ, cứ bắt dân giữ cái thói cũ. Đến lúc quan Toàn quyền Sarraut lại cấm lạy một lần nữa; nay Nam-kỳ và Bắc-kỳ đã bỏ cả rồi, mà Bệ hạ cũng cứ khư khư giữ theo cái thói mọi rợ đó, chẳng những không bỏ, lại còn làm cho phô trương thêm ra, Bệ-hạ làm hình như thêm cái lạy như thèm ăn uống một món gì ngon sướng lắm. Một khi trong Triều có lễ chầu lạy thời Bệ hạ cho phép người vào chụp ảnh để bán cho khắp cả nước, những ảnh ấy nay đã truyền khắp cả thế giới.

Khi Bệ-hạ qua Tây, các quan tiễn đến ga xe-lửa Đà-nẵng, Bệ hạ cũng bắt làm lễ lạy ; đến khi tàu tới Marseille cũng thế.

Lễ lạy không phải là lễ văn minh, vua cũng không phải là trời, quan và dân không phải là đày tớ mạt, ga xe lửa và bến tàu không phải chốn Triều đình, mà sao Bệ hạ dám bắt người ta vùi áo mão trong chốn lầm than, xem loài người như loài trâu ngựa, làm cho người ngoại quốc trông vào, chẳng những là chê cười Bệ hạ, mà lại mỉa mai khinh dễ nòi giống Viêt -Nam nữa. Những sự đó, phàm những người có nhiều ít trí khôn, biết được một tý văn minh đời bây giờ, chẳng ai chịu làm, mà Bệ-hạ thời cứ vui vẻ tự đắc mà làm được, thực lạ quá! Vậy không phải một người ngu là gì?

Rất đổi Bệ hạ lại cho phép người ta dùng thạch- cao năn thành hình người, như lúc Bệ hạ chịu chầu lạy trong lễ đại triều, đề trong trường dấu xảo Marseille, Bệ hạ tưởng sự đó là sang trọng lăm hay sao, mà Bệ hạ dám đem ra khoe trước mắt thế gian? tưởng làm thế này: Bệ-hạ thời choảnh trên ngai thếp vàng chẳng chút khiêm nhượng nào cả, còn các quan lớn nhỏ râu tóc bạc phơ, cúi đầu khoanh tay mắt thời nhắm hy hý, khom lưng đứng cả trước Bệ hạ, làm như hình một bầy rái đương tế cá, một bầy khỉ đương làm trò. Những người Âu có kiến thức, ai thấy cũng tức cười, vậy có chán ngán không?

Vậy thời Bệ hạ chẳng biết gì là xấu hồ sao ? Bệ hạ chẳng quản gì danh tiếng của Bệ hạ mặc lòng, còn thể diện nước Nam thời sao?

Trong truyện rằng : «Những ông vua mà tính ý trái với người thiên hạ cả, thế nào cũng bị người làm hại ». «Vua khinh dân như thể là con chó con ngựa, thời thế nào dân cũng coi vua như người đi đường», (nghĩa là không tình nghĩa gì với vua). « Vua coi mạng dân như cái cỏ cái rác, thời đâu cũng coi vua lại như người cừu thù».
Vậy thời Bệ hạ chẳng qua là người qua đường hay là người thù nghịch của dân Việt-Nam đó mà thôi, muốn cho dân đừng làm hại đến mình sao được ?

IV.- Bốn là tội xa-xỉ vô đạo

Sau khi Bệ hạ làm vua rồi, thời đã đem lòng chán chê những cung điện cũ của ông bà đời trước đề lại, liền làm ngay một sở cung điện nguy nga ở làng An cựu (1), mua những đồ sứ của Tàu, mỗi lần vài ngàn bạc, đem về đập bể ra, lựa những miếng nào bông hoa đẹp, đề gắn những hình con long, lân, quy, phụng, cho thỏa lòng xa xỉ của Bệ hạ.
Lại đem bạc tiền thuê người Tây đúc 3, 4 cái tượng đồng của mình, phí tổn ước mỗi cái trên dưới một vạn đồng bạc, đề chưng trong nhà đấu xảo. Bậu gì, xảo gì đồ đó mà đấu ! Lại từ cái khăn, cái mũ, cho chí cái áo, cái giày, Bệ hạ đều đính vàng ngọc kim cương, giá phí biết là bao nhiêu ! Rất đồi lấy vàng luột giát ra làm cái ủng để bao cả bắp chân, xa phí dại dột, từ xưa đến nay chưa có nghe ông vua nào làm như thế bao giờ.

Lại Bệ hạ lúc qua Tây, xuống tàu từ Tourane cho đến khi qua đến Tây, lúc ở trên tàu, gặp khách bộ hành nào thời những rượu sâm banh hạng nhất là đãi cho thả cửa, chỉ nói những tiền cho « buộc boa» (pourboire) cũng đến 20.000 quan, còn kim tiền, kim khánh thời đụng ai cho nấy, chẳng kề sao hết được.

Ai còn lạ gì, khi Bệ hạ chưa làm vua, trong túi chẳng có một xu, vậy thời tiền đó ở đâu mà tới ? Chẳng phải Bệ hạ ăn cắp tiền kho, tiền kín của nước ta, thời tiền đâu ?

(Trở lên là sao y bản dịch thủ bút của Cụ Tây Hồ còn giữ được. Dưới đây ông Lê-Âm dịch tiếp ở bản thủ
bút Hán-văn
).
(1) Tức cung An Định.

Than ôi! ở Trung kỳ nước ta, nông dân thời nghèo khổ đến cực điểm, thiên tai tới tấp, hoang vong thường thấy, quan tham lại nhiều, đất xấu dân cùng, lại thêm trong lúc giặc giá, vật giá cao vọt, tình trạng lưu ly đến nay chưa cứu vớt, xâu thuế nặng nề, gánh vác không nổi; nói đến việc mở mang trí khôn, việc nâng đỡ đời sống thời còn xa lắc xa lơ, sánh với Nam, Bắc-kỳ, bên khô bên tươi, cũng đã rõ rệt rồi. Thế mà ngân sách còn kêu thiếu hụt, ép dân mua rượu, thuốc phiện đề làm giàu công-quỹ, trắng trợn như thế còn phải làm, còn nói chi nữa.

Chẳng nói đâu xa, những năm 1916, 1917, 1918 là sau khi Bệ-hạ đã lên ngôi rồi, dân các tỉnh Thanh-hóa. Nghệ-an, Hà-tỉnh, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng-ngải bị bão to lụt lớn hạn lâu, nên phải chết đói, chết dịch, trên báo chương kêu van luôn, thảm thương như thế còn gì hơn nữa ! Nhưng mà chưa từng nghe Bệ hạ làm được một việc từ thiện nào đề cứu người sống sót, bố thí một đồng xu nào đề giúp kẻ khốn cùng! Như vậy thời Bệ-hạ đã giết hết tình- nghĩa với quốc-dân ta từ lâu rồi, mà nay lại dám ăn cắp của nước làm của riêng, xa xỉ bậy bạ, vứt tiền vào lỗ trống không. Chỉ lấy một việc ấy mà nói, Bệ-hạ còn mặt mũi nào, còn tư cách nào mà còn tự xưng là vua của dân ta?

Giả sử như Bệ-hạ lấy tiền làm cung điện đó mà lập một trường Đại-học tại Huế, lấy tiền mua đồ sứ đề đập bề đó mà mua đồ dùng cho nhà trường, lại lấy tiền phung phí dưới nuôi học-sinh lưu học tại Pháp cũng được vài mươi người, thời hai cách dùng tiền lợi hại khác nhau biết là bao nhiêu !

Thương hại thay ! Quốc dân ta mỗi năm cần cù, đồ mồ hôi sa nước mắt, vợ kêu đói con khóc lạnh, cũng mặc, thân rách rưới, bụng xép ve, cũng mặc, chỉ lo chạy ngược chạy xuôi cho có tiền đề nạp thuế cho nhà nước, là cũng có lòng mong nhà nước làm được điều gì ích lợi chăng? Nhưng mà khi thu thời vơ vét tận xương tủy, đến khi tiêu thời vãi tung như tro bụi, như thế thời quốc dân ta tội gì mà phải chịu sự cực khô, dâng của máu mủ, đề cho một người vua u-mê tiêu phá một cách dại dột như thế ?

Trong khi Bệ-hạ vung vãi bậy bạ đó, Bệ-hạ há không nghe việc làm của vị Tồng-Thống Trung-Hoa là Ông Lê-nguyên-Hồng sao ? Ông ấy thấy kho nhà nước thiếu hụt, thời tự nguyện đem tiền lương của mình hơn 3 triệu rưỡi quan tiền Pháp, trả lại cho quốc dân đề đem làm việc từ thiện, các báo Pháp khen ngợi không ngớt.

Ôi ! Tàu là một nước đất đai rộng, sản vật nhiều, dân số đông hơn hết trên thế giới, lại là một nước độc lập, họ nói nghèo, không phải là cùng vô sở xuất, thế mà đường đường một vị Tổng-Thống một nước lớn, biết yêu nước, biết lo dân, còn không muốn lãnh số lương hằng năm được hưởng, để cho quốc dân bớt gánh nặng thay ; huống chi
nay Bệ-hạ là vua một nước bị bảo-hộ, vị thứ ở dưới quan Toàn quyền, danh hiệu chỉ có trong 12 tỉnh, công-nghiệp
không hơn gì một tên dân mạt, mà lại dám tự sánh mình như vua trời, việc làm như trộm cướp, ngoài lương bổng ra, còn thêm phí tốn làm cung thất, lại còn tiêu xài bậy bạ nữa, thế là nghĩa lý gì?

Bệ-Hạ viết thư cho Bộ Trưởng Thuộc địa có câu xưng là «cha mẹ dân», thử hỏi nước ta xưa nay vốn trọng luân-lý gia-dình, mà có đâu thứ cha mẹ tàn nhẫn bất lương như vậy ? Đổi lại, phải nói thằng giặc của dân thời đúng hơn. Đó là bốn tội.

V. – Năm là phục-sức không đúng phép

Bệ-hạ tự ý chế ra một thứ lễ-phục kiều mới, tự mặc để ra Triều. Kiều ấy là trên áo cầm bào cũ, thêu vào cái cầu vai kiều Âu, còn cổ áo và tay áo thời đính vàng ngọc lòe loẹt, Âu không ra Âu, Á không ra Á, lại trên nón vua thời thêu thêm những hình rồng hình phụng sáng ngời. Nghe nói khi Đại-tướng Jorre qua nước ta, Bệ-hạ mặc đồ ấy mà đón tiếp; bây giờ qua Pháp, khi đến điếu mộ vô-danh tử-sĩ, cũng mặc bộ đồ ấy. Cũng may là người Pháp ít đề ý đến lễ chế nước ta, nên không biết đó thôi, nếu có người hơi rõ, gạn hỏi rằng, Bệ-hạ ăn mặc như vậy có quả đúng với lễ
phục nhà binh nước Nam không ? thời chẳng biết trả lời thế nào được.

Thử xem các nước trên thế giới, về lễ phục thời nước nào cũng có quy-định, khi tiếp khách, khi duyệt binh, khi triều, khi hội, lễ-phục có quan hệ đến quốc thể; phàm người ra làm việc công đều không được vượt khỏi, nếu không thận trọng một chút, thời đối ngoại mang cái nhục thất lễ, đổi nội mang cái tội trái phép. Ở nước ta trước kia phép nọ cũng rất chặt chẽ, từ vua đến dân đều có thê-chế, chép lại ở hội điễn, ban bố làm lệnh chung, nếu ai sai vượt thời hình phạt theo ngay.

Nếu nói rằng cách mặc xưa không hợp với đời nay, phải cải cách cho hợp thời, thời đó không phải việc không
nên làm. Xem như Tàu với Nhật công-phục đều theo lối Âu-châu thời sao ? nhưng phải đặt làm thể thức nhất dịnh,
trên đưới một loạt, thay đồi theo mới, lấy thề-lệ công bố ra ai nấy đều phải theo, như vậy thời sao lại không nên ?

Nay Bệ-hạ lại trái hẳn, tự chế tự mặc, chỉ lo làm sang một mình, người trong nước xem vào không gì là chính đính, lại làm cho tai mắt người ngoài lầm lạc, đã sai phép bang giao, lại làm nhục quốc-thể, chiếu luật pháp nước nhà, phải chịu điễn hình. Đó là năm tội.

VI.- Sáu là du-hạnh vô độ

Sau khi Bệ hạ lên ngôi, thời ra sức khuếch trương nghi trượng nhà vua, thường thường ra đi chơi rông, nào là voi, nào là kiệu, nào là xe, nào là ngựa, những người theo hầu, nhiều thi đến hàng trăm, ít cũng ba bốn chục, chiều lại dong chơi trong thành-thị. Trang sức lộng lầy, nghi thức oai nghiêm, quân hầu nghênh ngang, nước ta bốn mươi năm chưa từng có. Người đi đường khồ việc chạy tránh, dân trong nhà chán sự hầu phiền, còn Bệ-hạ thời dương dương tự đắc, ý muốn tỏ cho người ta biết rằng Hoàng để là sang.

Xét luật pháp các nước văn minh, không có quyền-lợi nào mà không có nghĩa vụ kèm theo. Nay Bệ-hạ tự tôn quân quyền, tự ý làm oai làm phúc, chính- trị bỏ lơ không mảy may lưu tâm đến. Nhân dân đói lạnh chẳng chút hỏi han, mà lại ngày ngày chơi rông, kiêu căng buông lung, thời còn trách kẻ bầy tôi sao được ? Bệ hạ thì cao quý lắm đó, còn quốc dân đau khổ thì sao ?

Như vậy là chỉ biết quyền lợi, mà không biết có nghĩa vụ, chiếu theo luật, hể không làm hết nghĩa vụ thời phải chịu trách nhiệm cái tội hại nước hại dân, Bệ hạ phải chịu là thủ phạm trước hết. Đó là sáu tội.

VII. – Bảy là việc Pháp-du ám-muội

Bệ-hạ qua Pháp chuyến nầy, người nước ta kẻ nào có lưu tâm đến quốc sự, phần nhiều phải suy nghĩ, trước thời ngờ sau thời lo, khi đã biết rồi thời ngó nhau mà cười mỉm.

Mượn cớ rằng đưa Hoàng-tử đi học, hoặc đi điếu quân-sĩ nước ta tử trận, và đi xem các thành phố phía Bắc nước Pháp bị tàn phá, thời những việc đó đều là việc tư của Bệ-hạ, không phải việc công của quốc dân ta, lại đó là những việc không cần kíp gì cả.

Nếu mượn cớ rằng di du lịch nước Pháp, đề khảo sát văn-minh của họ rồi về cải cách chính-trị trong nước, thời Bệ-hạ không phải là tay làm việc ấy được. Sao vậy? Vi nước Pháp là nước dân chủ, mà Bệ-hạ là vua tôn quân quyền, lấy cán vuông mà đút vào lỗ tròn, chỉ có cái hại làm cho hư cán mà thôi. Vả chăng Bệ-hạ không am hiều tiếng Pháp, mà mấy ông Đại-thần đem theo, như tên X tên Y đều là bọn hạ- tiện nước ta, trí-thức họ còn thấp hơn con nít
10 tuổi của Pháp. Lại trong khi Bệ-hạ ở Ba-lê, chỉ có một lần đến trường đua ngựa, cá được 200 quan, còn như những Viện Bác-cổ lớn, học đường lớn, thương quán lớn, công xưởng lớn, và những nơi nhóm họp bao nhiêu văn-minh tinh túy của nước Pháp v.v… thời chưa từng bước chân vào, nói rằng đi khảo-sát, thời khảo-sát mà như vậy ư?

Nếu mượn cớ rằng đi dự cuộc đấu xảo Thuộc- địa Marseille, thời nước ta ngày nay có cái xảo đề đấu, phi người Bắc-kỳ thời người Nam-kỳ là dân ở dưới quyền trực-trị của Pháp vậy (đấu xảo này Trung- kỳ có nghề bện sáo, so với 50 năm về trước chưa cải lương chút nào), còn 12 tỉnh Trung-kỳ là cái xứ ở dưới quyền chuyên-chế của Bệ-hạ, thời sĩ-phu lòng đen như mực, lòng-dân xương gầy như củi, có gì là xảo đâu ! Chỉ duy đại-thần và quan lại của Bệ-
hạ, thời cái xảo quỳ lạy, cái xảo dua nịnh, cái xảo ăn hối lộ, cái xảo xéo thịt dân đề ăn cho béo cho mập, nhưng tiếc thay! cái loài quỷ sứ ấy, thời tại Pháp đây, sáu bảy mươi năm về trước, họ đã nhận xuống nước sâu, ném vào lửa đỏ cả rồi, nay Bệ-hạ đem loài ấy qua, thời không ai còn mà đấu với nữa !

Như vậy trong cái màn hắc ám của chuyến du-lịch nầy của Bệ-hạ, công sắp đặt quỷ quyệt thế nào, cũng không khó gì mà không biết vậy.

Nghe Bệ-hạ vài năm trước đây, đã cậy oai chuyên-chế, vơ vét của dân, mua đồ xa xỉ hạng nhất của các nước Á-đông và nước mình, tóm thâu tất cả đồ quý báu của các triều trước đề lại, chứa đựng có hơn trăm hòm, ngày nay đem cả theo, nhờ người Pháp tên X tên Y vận-động, dâng lễ cho đảng quân chủ nước Pháp, đề nhờ củng-cố ngôi vua cho cha con Bệ-hạ và nhờ họ làm hậu-viện đề mong đạt cái mộng tôn quân quyền, sau thành việc rồi Bệ-hạ về
nước sẽ thi oai dâm bạo, khóa hết miệng lưỡi quốc- dân, rồi sẽ ký điều-ước này điều-ước nọ đề đền đáp.Việc này tuy còn ở trong vòng bi-mật, nhưng người ta đã đồn rầm ở ngoài, không phải là không có cớ, theo lời tục-ngữ của Pháp «không lửa mà có khói» ai tin !

Tuy nhiên, nếu Bệ hạ mà dùng kế ấy, há chẳng thất sách lắm sao ? Bệ-hạ muốn giữ vững ngôi quân-chủ mà lại đi cầu khần với dân của một nước dân-chủ, Trinh này đã biết muôn phần không có một phần nào thành công được.
Cái bệnh của Bệ-hạ là bởi ngu muội, chưa từng đọc lịch sử cách-mạng nước Pháp vậy. Nếu một mai biết được thời sẽ gục đầu chán nản, cuốn gói mà về sớm vậy.

Cuối thế-kỷ thứ 18, cái oai chuyên-chế của nền quân-chủ Âu-châu đã lên đến tột bực, thưởng phạt tùy ý, trẩm tức quốc-gia, xem nhân dân như nô-bộc, vãi tiền tài như đất bụi, cung thất huy hoàng, chơi bời xa xỉ, ăn mặc hoa mỹ, quỳ lạy tôn nghiêm, thật không phải một ông vua một nước mang cái hư danh là bán-tự-chủ như Bệ hạ có thể tưởng tượng được. Thế mà hễ vật đã cực thời phản lại, đó là lẽ tất nhiên. Buồi ấy các danh-sĩ nước Pháp, như Lư-thoa,
Mạnh-Đức-Tư-Cưu, Phúc-Lộc-Đắc-Nhỉ, v.v… kế tiếp nhau nổi lên phát-huy cái nghĩa dân quyền, chẳng đầy vài mươi năm mà cái thế lực ảnh hưởng ra khắp toàn Âu. Dân tộc Pháp là tiên tiến nhất, hươ tay kêu lớn, ứng lại như vang, ngã rồi đứng dậy, càng tiến càng hăng, cho nên tấu được khúc khải hoàn, mà cái đầu của vua Lộ-dịch thứ 16 của nước Pháp đã bêu cao trên đoạn dầu đài vậy. Bệ hạ qua thành Ba-lê, trong những đường phố rộng rải, thấy có những tượng đồng nguy nga, đó đều là những tượng kỷ-niệm những bậc thánh hiền hào kiệt đương thời đã ủng hộ tự-do, cứu vớt mạng dân vậy. Còn cái tháp độ-sộ, cao ngất tầng mây, trên có vị Nữ-thần, tay cầm đuốc tự do, hào
quang chói dọi khắp cả bầu trời, đó là vị thần dân- chủ vậy. Phảm trong thế – giới, quân chủ nào vô đạo thì thần ấy chẵng dung. Bệ-hạ nên qua chơi công- trường Công-cố và cung điện Versailles (Lộ-dịch đã bị bắt ở Verseilles và bị giết ở Công-cố) đề điếu cái di-tích màn chót nền quân chủ vô-đạo, nhơn đó họa may có tự tỉnh chăng.

Từ thời ấy, chính thề nước Pháp đổi làm dân-chủ, lập ra Nghị-viện dân-cử, lập-pháp, hành-pháp, tư-pháp, phân tách rõ ràng, mà Nghị-viện nắm hết chủ quyền của nước. Đến nay chính thể chuyên chế không còn dấu vết, nhơn loại trong nhiều nước được hưởng hạnh phúc, tự-do, là nhờ dân tộc Pháp đã chảy máu trước mà được vậy. Sao Bệ-hạ không xin vào điện Bourbon đề nhận thấy cái khí tượng bác-ải, bình-đằng, tự- do của quốc-dân nước Cọng-hòa, so sánh lại với cái chính-thể chuyên-chế đen tối ngàn năm của nước ta, thời thấy rõ cái chủ nghĩa dân quyền thần thánh bất khả xâm pham, nó đương bồng bồng bột bột như mặt trời giữa trưa, chiếu thấu cả bầu trời, mà về sau chính thể quân-chủ tất không còn chỗ đứng chân, còn nói chi đến việc chuyên-chế dã-man nữa.

Được như vậy há chẳng phải sức người làm nên chăng ? thi đó cũng là luật thiên diễn không thể tránh được vậy.

Ngày nay các dân tộc trên hoàn cầu đều xưng nước Pháp là nước tổ dân-quyền, không đúng hay sao ? không đúng hay sao?

Đó, một nước danh dự như thế, một dân danh dự như thế, xem lại hơn trăm hòm đồ quý của Bệ- hạ đáng giá bao nhiêu, lại dám đem bạch bích mà nhem thèm, đem huỳnh kim mà đen lòng, đi ngược lại phong-triều thế-giới, trái
với công-lý nhân-đạo, làm dơ danh-dự của quốc dân, đề vi Bệ-hạ giữ lại cái vận-mạng của nền quân-chủ chuyên chế, nó đã gần tàn như giọt sương ban mai rồi. Nói rằng 20 triệu quốc-dân oán là việc nhỏ, còn mặt mũi nào đối
với vạn quốc trên thế-giới ư ? Xem vậy Bệ-hạ đi chuyến nầy chắc chắn là thất bại, không còn ngờ gi nữa. Chỉ tiếc thay, bao nhiêu máu mỡ của 6, 7 triệu quốc dân ta, bao nhiêu cái kho tàng quý báu của nước nhà ta dành dụm mấy trăm năm nay, chỉ vì sự lơ lĩnh nhỏ nhen mà Bệ-hạ đem vứt đi một cái, làm chìm lỉm hết thảy theo ngọn sóng Tây-dương ! Đó là bảy tội.

*******

Trở lên bảy điều, bởi có quan-hệ đến quốc-kế dân-sinh, nên kể ra đề buộc tội. Ngoài ra những điềm xấu xa còn nhiều không thể kề xiết, bởi không quan-hệ đến việc nước cho lắm, hoặc có dính đến đời tư cá nhân nên không kể đến làm gì.

Ôi ! Thế-giới ngày nay dân trí tiến bộ mỗi ngày ngàn dặm, trước vài mươi năm nay, vua các nước lập-hiến đã đem mọi chánh-sự lớn nhỏ của quốc-gia, hai tay dâng trả lại cho quốc-dân, không dám hỏi đến, duy ngày đêm mong ước được giữ cái hư danh ở trên thần-dân, khỏi mất nối dòng đề xấu hồ đến tôn miếu, thời đã coi là cái phước lớn tày trời rồi, nhưng đến nay quốc dân họ còn lấy làm khó chịu, còn lo trăm kế đề bỏ đi, đề dạt được đến cái chủ
nghĩa bình-dân chân chánh mới hà dạ,

Vậy thời từ nay cái ngày tàn quân-chủ trong thế-giới cũng không xa mấy, không cần phải khôn- ngoan lắm mới biết vậy. Chẳng nói đâu xa, gần đây trong thời Âu-chiến, bị quốc-dân giết hoặc đuồi đi đã có 38 vua, trong đó có 3 ông Đại Hoàng-để rồi.

Như trước đã nói, chính-thề nước ta, từ xưa là quân-chủ độc-tài, chính-trị hay dở, quan lại hiền ngu, quốc dân không được hỏi đến. Nay thời thế nước càng ngày càng suy vi, mất cả cái tên Việt-Nam trong bản đồ thế giới. Hãy xem các nước Á-Đông, Tàu, Nhật không nói, còn Xiêm-La là một nước xưa kia dân ta không thèm đứng ngang hàng, thế mà nay họ nghiểm- nhiên đứng trong vòng bình-đẳng với vạn-quốc. Lại như Nam Bắc hai kỳ, ở dưới quyền kinh-lý của nước Pháp, dám buộc có rộng rải hơn, nên hơi có sinh sắc hơn. Còn 12 tỉnh Trung-Kỳ, thời rên rỉ mãi dưới chính-thể chuyên-chế vô trách-nhiệm, không biết dựa vào đâu đề nuối chút hơi tàn ! Đó là tội của ai ? tội của ai ? ? Xem đó thời chẳng những quân chủ hiện tại phải truất, mà xét đến nguồn gốc nguyên nhân sâu xa, thời quân-chủ các đời đã qua cũng không tránh khỏi búa rìu công- luận của quốc-dân vậy.

Ôi ! Xu thế bên ngoài đã như thế kia, mà tình thế nước ta lại như thế nầy, thời cái ngôi Bệ-hạ đã nguy tợ như trứng mỏng, thật có như lời Hiếu-Đế nhà Hán đã nói : « Mạng của Trầm chẵng biết mất còn ngày nào đây !» Vậy mà Bệ-hạ còn mê muội không biết, tự ví mình với thần thánh, dắc bầy tiều nhân núp bóng làm càn, công nhiên buông thói ăn lo ăn lót, người ta nói không kề, dân nói không hay, lại còn nghịch thì thế, trái nhân tâm, nhen lại bếp tro tàn chuyên-chế, dứt hẳn cái dân- khi đã thương tôn lâu ngày, quơ hết châu báu của nước, quét sạch tài sản của dân, lo phần tư-kỷ một minh, quên cái oán của muôn dân. Thử hỏi : quốc-thồ Việt-Nam có phải là tư-sản của Bệ hạ hay sao ? 20 triệu quốc- dân há phải là gia-bộc của Bệ hạ hay sao ? Quan lại nước ta mục nát còn sợ chưa quá chừng hay chăng, mà còn phải có Bệ-hạ trưởng thêm lòng gian tham nữa ? Danh hiệu Việt-Nam còn e chưa nhơ nhuốc chăng mà còn phải có Bệ hạ ra dâng mùi hôi thúi, làm cho thiên hạ chê cười khinh-dễ chẳng còn kề là loài người nữa ? Dầu mỡ của quốc-dân ta còn sợ chưa khô hết hay chăng, mà còn phải có Bệ-hạ hoang-phí vung vãi nữa ? Than ôi ! Nước ta tội gì mà phải chịu cái nghiệt chướng ấy ! dân ta tội gì mà phải đội thứ vua quỷ ấy ! Nếu không cùng quần chúng trừ khử nó đi, tất phải cùng nó chết đắm nay mai thôi !

Tôi viết đến dây, viết đã cùn, tay đã mỏi, giấy dã hết, mà điều tôi muốn nói hãy còn chưa hết, tôi phải khăng khăng mấy ngàn lời mà không thôi đó, chẳng phải công-kích cá-nhân Bệ-hạ, mà là công-kích hôn-quân vậy ; cũng không phải vì tư kỷ của Trinh nầy mà làm, mà vì 20 triệu đồng bào xô ngã chuyên-chế, ủng-hộ tự-do vậy. Thầy Mạnh nói
rằng : « Đầu phải ưa biện luận, bất đắc dĩ mà thôi », tâm-sự của tôi cũng là thế ấy đó.

Nếu như Bệ-hạ có đủ thiêng-lương, chút biết hối-ngộ, biết quân-quyền không thể cậy được, dân oán không thề khi được, thời phải sớm quay về. tư thối vị trước, đem chính-quyền dâng trả lại cho quốc-dân ta, đề họ trực tiếp cùng dân-tộc Pháp, tự mưu lấy lợi ích của họ, như vậy thời, quốc-dân ta còn lượng tinh, không bạc đãi, cái kế của Bệ-hạ không còn kế nào hơn.

Ví bằng cậy chuyến đi này, thêm lòng táo bạo, không kể gì hết, cứ khư khư cắp ngôi chí-tôn, cứ thi oai chuyên-chế, làm dứt mạng-mạch của nước trong cơn thùy nguy, đánh đắm quốc-dân trong kiếp khổ lâu dài, nếu vậy thời Trinh này tất phải : trong cáo với quốc- dân, ngoài hiệp cùng nước Pháp, vì 20 triệu đồng-bào, cùng Bệ-hạ tuyên-chiến quyết-liệt, nguyện đề cho cái đầu của Trinh cùng với cái quân-quyền chuyên-chế dã-man của Bệ-hạ đồng thời rơi xuống dất, quyết không nỡ thấy vài mươi vạn dặm vuông giang-sơn đất nước, vài mươi triệu cha mẹ anh em, phải giao đứt vào tay hôn- quân vậy !

BỊ-CHÚ :

1) – Thư nầy viết một bản bằng Hán-văn gởi Bệ hạ, lại dịch ra Pháp-văn đăng lên báo Pháp và rải truyền đơn, đề rộng đường công luận của người Pháp.
2) – Giữa tôi với Bệ hạ, đã đoạn-tuyệt nhất thiết quan-hệ, chỉ đứng trên địa-vị đối đãi mà thôi, cho nên nói « gởi », mà không nói « dâng» ; còn dùng hai chữ « Bệ-hạ » đó là theo Hán-văn, xưng hô như vậy cho tiện, chứ không phải là tôn kính đâu.
3) – Tôi là người phục tùng Nho giáo, nên không dùng thứ lễ chuyên-chế đặt ra từ Tần-Thỉ-Hoàng về sau (Thỉ-Hoàng đốt sách chôn học trò, Không giáo đã mất), lễ ấy là hễ gặp chữ tên húy của nhà vua thời phải tránh, cho nên đây tôi viết thẳng không kiêng, là đề tỏ ý phản đối. (Nhật-Bản đã bỏ lâu rồi, chỉ có ta còn giữ lối đó.)

Marseille, ngày 14 tháng 7 năm 1922
Ký tên : PHAN-CHÂU-TRINH

Nguồn : ndclnh-mytho-usa.org

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Thư viện

Chuyên mục