//
you're reading...
Chiến Tranh, Hoàng Nguyễn, Nhân vật, Tùy Bút

Michael Kelley và Đài Tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam * Hoàng Nguyễn

Hình ảnh : Colnav Nguyen

Sau gần 50 năm sống ở Sacramento, tôi đã có nhiều chuỵện vui buồn lẫn lộn. Một chuyện buồn khó quên của tôi là cái chết của người bạn tốt, Michael Kelley. Bạn tốt ở đây không có nghĩa Mike là người bạn thân và tốt với tôi, mà Mike là một người đã đóng góp nhiều cho cộng đồng Mỹ và là một người tôi quý mến.

Cận ảnh bản đồ Nam Việt Nam bằng đồng trải dài trên mặt đất, trước cổng vào đài tưởng niệm, cho thấy khu vực phục vụ quen thuộc của Mike ở miền trung VN, trong đó có Huế.



1. Michael Kelley – một người Mỹ trầm lặng
“I am Mike Kelley.” Đó là câu giới thiệu đơn giản khi tôi gặp Mike Kelley lần đầu trong một sinh hoạt cộng đồng. Ấn tượng đầu tiên của tôi về Mike là một người Mỹ gốc Ireland hiền hòa, nghiêm trang và trầm lặng. Anh trông giống một giáo sư đại học hơn là một cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam.
Sau đó, tôi có dịp gặp Mike nhiều hơn khi chúng tôi cùng giúp cho lớp học về lịch sử Chiến tranh Việt Nam của giáo sư Louis Grivetti tại Đại Học UC Davis. Qua những lần trò chuyện ấy, tôi dần dần hiểu anh nhiều hơn. Đằng sau vẻ ngoài trầm lặng là một con người nhạy cảm, giàu lòng nhân từ và dường như vẫn bị ám ảnh bởi chiến tranh Việt Nam.
Mike tham chiến ở Việt Nam với vai trò một xạ thủ đại liên, machine gunner, thuộc Sư đoàn Nhảy dù 101 của quân đội Hoa Kỳ, 101st Airborne Division. Anh chiến đấu tại Việt Nam gần một năm và giải ngủ năm 1970 sau khi bị thương nặng.
Khi biết tôi từng ở Huế, Mike kể cho tôi nghe nhiều chuyện về những tháng ngày anh sống và chiến đấu ở Việt Nam. Anh kể về những ngày đóng quân tại vùng núi Kim Phụng gần Huế; kể về vẻ đẹp của núi rừng, ruộng đồng và cảnh vật miền Trung; và kể về một đất nước mà, theo cảm nhận của anh, chiến tranh đã biến đổi và tàn phá quá nhiều.
Nhưng có một câu chuyện đặc biệt anh kể khiến tôi nhớ mãi. Một đêm Giáng Sinh, đơn vị của Mike phải quyết định ai sẽ đi tuần đêm đó. Họ bốc bài để chọn. Một người bạn của Mike rút phải lá bài xấu và phải đi tuần. Đêm Giáng Sinh đó, người bạn ấy đạp phải mìn và chết. Mike kể lại câu chuyện ấy bằng một giọng xúc động. Tôi có cảm giác như thể câu chuyện không xảy ra nhiều năm trước mà là chỉ mới xảy ra ngày hôm qua.
Một lần khác, tính nhạy cảm và lòng nhân ái của Mike làm tôi nhớ mãi. Anh nhờ tôi tìm cách trao lại cho gia đình ở Việt Nam cuốn nhật ký mà một người lính Mỹ đã lấy được từ thi thể của một người lính Bắc Việt. Tôi không biết người lính Mỹ lấy cuốn nhật ký đó có phải chính là Mike hay không, nhưng Mike muốn cuốn nhật ký được trao lại tận tay tới gia đình của người chết. Tôi có đem cuốn nhật ký về Việt Nam và nhờ bạn bè tìm cách trao lại cho gia đình người lính Bắc Việt. Thật đáng phục khi một người lính Mỹ, nhiều năm sau khi chiến tranh kết thúc, vẫn nghĩ đến một gia đình của người lính bên kia chiến tuyến và muốn trả lại cho họ một phần di sản của người chết.
Chúng tôi cũng hay nói chuyện về các bức vẽ của anh và cuốn sách anh đang viết – “Chúng Ta Đã Ở Đâu ở VN”, Where We Were in Vietnam (1). Anh có ký tặng tôi một bức tranh của anh đang mang khẩu súng máy. Bức vẽ có tên, Machine Gun Kelly, biệt danh của anh. Nghĩ lại biệt danh này cũng thật buồn cười. Ngoài đời Machine Gun Kelly là biệt danh của một trùm gangster Mỹ nỗi tiếng giết người không gớm tay thời cấm rượu – Prohibition thủa xa xưa. Trong khi đó, Mike, tuy oai phong, nhưng hiền lành và ít nói.

Tượng đồng người chiến binh bị thương ở đầu, vừa mới bị cưa tay, nằm trên băng ca.



2. Ám ảnh chiến tranh và những đóng góp của Mike Kelley
Tháng 9 năm 1970, trong một lần đi tuần gần Huế, Mike đạp phải mìn. Anh bị thương nặng và phải nằm bệnh viện hơn tám tháng.  Sau khi hồi phục, Mike giải ngũ và tiếp tục theo học tại California State University, Sacramento (CSUS). Anh lấy bằng thạc sĩ về nghệ thuật và sau đó làm việc cho Quận Sacramento. Tôi không biết anh và đơn vị của anh đã làm gì ở Việt Nam, nhưng anh luôn luôn bị cuộc chiến Việt Nam ám ảnh. Có lẽ chính những ám ảnh chiến tranh ấy đã thúc đẩy Mike dấn thân vào những vấn đề liên quan đến chiến tranh, đặc biệt là số phận của những cựu chiến binh Việt Nam.
Ám ảnh về chiến tranh Việt Nam đã thúc đẩy Mike trở lại Việt Nam cùng Dân Biểu California B. T. Collins. Anh đã mang theo một lá thư xin lỗi dân Việt Nam về những điều anh và đơn vị anh đã làm khi tham chiến ở Việt Nam. Tôi không hỏi anh đã làm những điều gì khi ở Việt Nam, nhưng nhiều cựu chiến binh Mỹ có những ám ảnh này. Chẳng hạn như một cựu chiến binh cùng thời với Mike, Philip Caputo, đã viết về những ám ảnh này trong cuốn bút ký nỗi tiếng, A Rumor of War (Tin Đồn Có Chiến Tranh, (2), và trong tập chuyện ngắn Wandering Souls (Cô Hồn, (3). Sau khi trở về, Mike ít nói hơn về chuyện xin lỗi nhân dân Việt Nam.
Ám ảnh chiến tranh khiến Mike trở thành một họa sĩ được biết đến với những tác phẩm liên quan đến chiến tranh Việt Nam. Một số tranh của anh được trưng bày tại các phòng triển lãm ở nhiều nơi ở Mỹ. Chiến tranh Việt Nam, ký ức về người lính và những mất mát của một thế hệ thường xuyên là đề tài trong các tác phẩm của anh.

Tranh nổi bằng đồng áp trên tường mô phỏng theo ảnh chụp nổi tiếng cảnh tải thương bằng chiến xa M-48 trong trận đánh tái chiếm thành nội Huế năm 1968.


Mike hay nói chuyện về các bức vẽ của anh và cuốn sách anh đang viết – “Chúng Ta Đã Ở Đâu ở VN” – Where We Were in Vietnam. Trong một bức tranh vẽ anh đang mang khẩu súng máy, anh ký tặng tôi dùng biệt danh, Machine Gun Kelly. Biệt danh này mang một tương phản khá buồn cười. Ngoài đời Machine Gun Kelly vốn là biệt danh của một tên trùm gangster khét tiếng giết người không ghớm tay thời kỳ cấm rượu thủa xưa – Prohibition – ở Mỹ. Mike Kelley, dù oai phong, nhưng lại hiền hòa, nghiêm trang và trầm lặng
Mike là tác giả cuốn sách nỗi tiếng trong giới cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam, Where We Were in Vietnam – Chúng ta đã ở đâu ở Việt Nam.  Tuy nhiên điều khiến Mike được nhiều người biết hơn cả có lẽ là bài viết của anh về vấn nạn tự tử của các cựu chiến binh Việt Nam.
Trong nhiều năm, báo chí và các nhà nghiên cứu Mỹ tin rằng rất nhiều cựu chiến binh Việt Nam đã tự tử sau khi trở về Mỹ. Chẳng hạng như có vài bài báo nêu con số đến 200,000 người cựu chiến binh VN đã tự tử, cao gần gấp 4 lần số lính Mỹ bị chết ở VN. Cũng như bao cựu chiến binh VN khác, MK đã nghi ngờ và bất mản về con số tự tử quá cao này. Số tự tử quá cao gây ra nhiều tai hại cho cựu chiến binh VN. Thứ nhất, con số này làm dân Mỹ hiểu lầm rằng phần lớn những cựu chiến binh VN bị hội chứng rối loạn tâm thần sau sang chấn (PTSD) nên mới tự tử nhiều như vậy. Thứ hai con số cao như vậy bình thường hóa việc tự tử của các cựu chiến binh VN và có thể đưa đến việc nhiều cựu chiến binh Việt Nam tự tử hơn.

Mike không chấp nhận những con số ấy. Anh tìm các nguồn dữ liệu, đối chiếu những nghiên cứu khác nhau và viết một bản phúc trình để kết luận con số tự tử, từ 50,000 đến 200,000, hoàn toàn sai lầm và chỉ là sản phẩm tưởng tượng chứ không do một nghiên cứu nào cả.

“In all the exhaustive research and reading that went into the preparation of this monograph, not so much as a single shred of verifiable data was unearthed that would even remotely suggest Vietnam veterans were killing themselves in greater numbers than our enemy could, despite the many published claims the suicide total ranged from 50,000 to 200,000.

Absent evidence to the contrary, it is impossible to conclude other than that the popularly reported rates of suicide among Vietnam veterans form a myth of colossal dimensions.” (4)
Sau đó, dựa trên những dữ liệu mà anh có thể kiểm chứng, Mike đưa ra một ước tính thấp hơn rất nhiều: vào năm 1996, số cựu chiến binh Việt Nam đã tự tử có thể nằm trong khoảng từ 2.000 đến 20.000 người.
“ Given what verifiable data is now available, it would seem reasonable to estimate that as of 1996, a total of somewhere between 2,000 and 20,000 Vietnam veterans had taken their own lives.” (4)
Gần đây, ước tính của Mike đã được chứng minh gần với sự thật hơn.

3. Đài Tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam tại Sacramento

Đài tưởng niệm chiếm một không gian khiêm tốn, tuy vậy nội dung vẫn súc tích, thu hút người đến viếng lưu lại dài lâu. Hai cột trụ của cổng vào làm theo hình dáng các vỏ đạn, nhìn ra bản đồ Nam VN trên mặt đất. Vòng cung ngoài cùng ghi tên các con dân California tử trận trong chiến tranh VN.

Đối với tôi, đóng góp quan trọng nhất của Mike Kelley có lẽ là vai trò của anh trong việc xây dựng Đài Tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam tại Capitol Park ở Sacramento.
Mike và B. T. Collins – hai cựu chiến binh Mỹ gốc Ireland – là hai người giữ vai trò nòng cốt trong công trình này. B. T. Collins khi ấy là Chief of Staff của Thống Đốc California Jerry Brown. Với những mối quan hệ rộng rãi của B. T. Collins và sự kính nể của dân chúng và các cựu chiến binh dành cho Mike Kelley, hai người đã cùng nhau giúp đưa dự án từ ý tưởng trở thành hiện thực. Không có họ là không có Đài Tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam.
Mike là thành viên của Ban Nghệ thuật thuộc Ủy Ban Xây Dựng Đài Tưởng niệm. Tôi từng hỏi Mike một câu mà tôi thắc mắc về Đài Tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam. Trên lý thuyết, người Mỹ qua Việt Nam để giúp dân miền Nam và nhất là quân lực VNCH chống lại cộng sản. Tại sao Đài Tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam lại không có hình ảnh một người dân Việt Nam hay một người lính VNCH nào cả?
Mike kể rằng đó là một đề tài từng gây nhiều tranh luận gay gắt trong Ủy Ban Xây Dựng.
Theo lời Mike, có hai quan điểm đối nghịch. Một phía cho rằng đài tưởng niệm nên có hình ảnh và sự tưởng niệm dành cho những người dân cũng như người lính VNCH – những người đã chiến đấu và chịu đựng trong cuộc chiến.
Phía thứ hai không muốn đưa hình ảnh người lính hay người dân VNCH vào Đài Tưởng niệm. Họ nghĩ là đài tưởng niệm này chỉ nên dành riêng cho những người lính Mỹ đã tử trận tại Việt Nam.
Mike cho rằng đằng sau sự phản đối ấy còn có những cách nhìn khác nhau về cuộc chiến và về vai trò của quân đội VNCH. Nhưng cuối cùng, Ủy ban đã bỏ phiếu và phía thứ hai đã thắng.
Do đó Đài Tưởng niệm chỉ có hình ảnh một em bé Việt Nam được một nữ quân y Mỹ cứu khỏi một căn nhà đang cháy.


4. Vĩnh Biệt Mike
Tôi biết tin Mike qua đời khá muộn. Theo báo Sacramento Bee, anh đã treo cổ tự tử sau sân nhà vào đêm Giáng Sinh 2011. Báo Bee cũng cho biết anh đã ly thân với vợ và đang mang nhiều chứng bệnh.
Tôi không thể đến dự tang lễ của Mike. Nhưng sau đó tôi tham dự lễ tưởng niệm anh tại Đài Tưởng Niệm Chiến tranh Việt Nam ở Sacramento – nơi mà anh đã góp phần xây dựng.
Khoảng một trăm bạn bè và thân hữu có mặt. Điều làm tôi xúc động nhất là khi người bạn thân của Mike, Bob Marlow, bước lên hát bài Danny Boy để tiễn biệt anh. Danny Boy là một ca khúc Ireland rất quen thuộc thường được hát trong các tang lễ người Ireland. Nhưng trong buổi chiều hôm ấy, giữa những người cựu chiến binh và tại một đài tưởng niệm chiến tranh, bài hát này bỗng mang một ý nghĩa khác.
Tôi nhớ vài câu đầu của bài hát mà tôi tạm dịch như sau:

Danny con ơi, tiếng kèn đã dục
Vang vọng từ đồng xanh lên khắp núi đồi.
Mùa Hè đã qua và các bông hồng đã rụng.
Và con phải ra đi để mẹ ở lại nhà.
Nhưng con sẽ về khi đồng xanh đẩy nắng ấm
Hay lúc thung lũng phủ đầy tuyết sương.
Mẹ vẫn chờ con, dù trời mưa hay nắng.
Danny con ơi, mẹ yêu con biết mấy.
Nhưng nếu con về, khi muôn hoa đã rụng
Và mẹ chẳng còn, đã khuất núi ngàn dâu.
Thì con hãy tìm đến nơi mẹ nằm an giấc
Quỳ bên mồ và nói với mẹ một lời vĩnh biệt
. (5).


Vài năm trước đó, tôi cũng đã nghe Bob Marlow hát bài Danny Boy cũng tại Đài Tưởng Niệm này trong buổi lễ tưởng niệm một cựu chiến binh Việt Nam gốc Ireland khác – B. T. Collins.
Hai người bạn. Hai cựu chiến binh VN gốc Ireland. Hai người đã góp công xây dựng Đài Tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam. Và một Bob Marlow đã hát bài Danny Boy đưa tiển cả hai. Nhưng lần này bài hát chỉ dành riêng cho Mike.
Tôi đứng trong buổi lễ, nhìn những ngọn cây rung nhẹ trước gió. Tiếng hát của Bob vang lên giữa khoảng không yên tĩnh của khu vườn Capitol. Tôi bỗng nghĩ đến Mike. Tôi nghĩ đến người lính trẻ năm nào ở Việt Nam. Nghĩ đến những ngày Mike đóng quân ở vùng núi Kim Phụng. Nghĩ đến người bạn của Mike đã chết cũng trong một đêm Giáng Sinh. Nghĩ đến cuốn nhật ký của người lính Bắc Việt. Nghĩ đến những bức vẽ của anh về chiến tranh VN. Và nghĩ đến chính cái đài tưởng niệm này – một công trình mà anh đã bỏ nhiều công sức xây dựng.
Tôi nghĩ đến Mike Kelley như một người Mỹ trầm lặng. Một người lính từng cầm súng giúp miền Nam VN. Một người đã gần gủi với chiến tranh. Một người đã dành phần lớn đời mình giúp những cựu chiến binh khác hàn gắn những vết thương mà chiến tranh VN để lại, nhưng cuối đời lại không thoát khỏi những ám ảnh chiến tranh. Oái ăm thay, anh đã chọn con đường giải thoát mà chính anh đã cố gắng thuyết phục nhiều cựu chiến binh khác đừng chọn.  Và tôi thầm nói: Vĩnh biệt, Mike.
Mong rằng ở nơi nào đó, sau những năm tháng của chiến tranh, mất mát, bệnh tật, cô độc, và ám ảnh, anh cuối cùng đã tìm được sự bình an.

Hoang Nguyen, Oct 16, 2026

Chú Thích

(1)     Where We Were in Vietnam: A Comprehensive Guide to the Firebases, Military Installations and Naval Vessels of the Vietnam War – 1945-75, Michael P. Kelley, Hellgate Press, May 20, 2022
(2)     A Rumor of War, Philip Caputo, Ballantine Book, New York, Jan. 1, 1977
(3)     Wandering Souls, Philip Caputo, Arcade Publishing, New York, Jan. 20, 2026
(4)     Michael Kelley, The Three Walls Behind the Wall. Unraveling the Myth of Vietnam Veteran Suicide, 1997. https://www.deanza.edu/faculty/swenssonjohn/ewrt2vn/essays_mikekelley_walls.html
(5)     Hoang Nguyen dịch từ bài hát người Ireland
Oh, Danny Boy
Oh, Danny Boy, the pipes, the pipes are calling
From glen to glen, and down the mountain side
The summer’s gone and all the roses falling
It’s you, it’s you must go and I must bide
But come ye back when summer’s in the meadow
Or when the valley’s hushed and white with snow
And I’ll be here in sunshine or in shadow
Oh Danny Boy, oh, Danny Boy, I love you so
But when ye come, and all the flowers are dying
If I am dead, as dead I well may be
Ye’ll come and find the place where I am lying
And kneel and say an Ave there for me

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

Thư viện

Chuyên mục